MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

Tháng Hai 1, 2021 9:14 sáng

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

 

  1. Lý do chọn giải pháp:

Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Nam. Trong nhà trường Tiểu học, Tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần phải chiếm lĩnh. Đồng thời, cũng là một môn học được gọi là môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu về vốn từ, vốn sống, những kĩ năng cơ bản nhất trong giao tiếp. Học tập môn này, học sinh còn được bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người.

Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt được chia thành các phân môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất định. Phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, nó có vai trò rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó quan trọng là các kĩ năng nghe, nói, viết. Đối với phân môn này, các em được rèn luyện năng lực trình bày ở dạng văn bản với nhiều thể loại khác nhau.

Với học sinh lớp 4, việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho các em là cần thiết. Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp lên các lớp trên. Việc giúp các em hoàn thành tốt bài văn miêu tả sẽ góp phần nâng cao năng lực viết, cảm thụ văn học, giúp các em khám phá được những cái hay cái đẹp viết được bài văn với ngôn ngữ trong sáng, lời hay ý đẹp, xây dựng văn bản khúc chiết.

Qua thực tế giảng dạy tại Trường Tiểu học Quảng Minh B gần 5 năm, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó nhất trong các phân môn của môn Tiếng Việt, trong đó kĩ năng viết văn miêu tả của học sinh còn bọc lộ những hạn chế nhất định. Để thực hiện được mục tiêu của phân môn Tập làm văn là phải xây dựng được kĩ năng nói và viết thành thạo, các em cần huy động tất cả các kiến thức của các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, và các môn khoa học khác…Trong khi đó, các em học yếu thì rất “chán” học phân môn Tập làm văn.

Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung, dạy cho học sinh lớp 4 học tốt hơn văn miêu tả nói riêng, tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp của mình : “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bài tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4”.

  1. Một số giải pháp nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở Trường Tiểu học Quảng Minh B.

Năm học 2019-2020 trước khi thực hiện các giải pháp kết quả bài làm tập làm văn miêu tả của học sinh như sau:

Lớp TSHS       HTT         HT          CHT  Ghi chú
  4B    17 SL % SL % SL %
   0    0   11 64,7     6 35,3
  1. Giải pháp thứ nhất: Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ở lớp 4 là như thế nào?

Miêu tả là loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe người đọc, hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật sự việc như nó vốn có trông đời sống. Một bài văn miêu tả hay, không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện ở trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả. Bởi vì trong thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy nghĩ,cảm xúc sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình. Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yếu mến, thích thú. Vì vậy qua bài làm của mình, các em phải gửi gắm tình yếu thương với những gì mình miêu tả.

Đối tượng của văn miêu tả trong chương trình lớp 4 gồm có miêu tả đồ vật, cây cối, con vật.

          Tả đồ vật:

Đối tượng của văn miêu tả đồ vật ở lớp 4 là những vật học sinh thường thấy trong đời sống hàng ngày của các em, vì vậy cũng trở thành gần gũi với các em. Đó có thể là cái bàn học, quyển sách, chiếc cặp, cái đồng hồ báo thức, chiếc thước kẻ, chiếc bút chì,cục tẩy,….Chúng là những đồ vật vô tri, vô giác nhưng gần gũi và có ích đối với học sinh.

Mỗi đồ vật đều có một hình dáng, màu sắc, kích thước, chất liệu cụ thể. Học sinh miêu tả những đặc điểm này trong bài văn của mình. Với những đồ vật có nhiều bộ phận, các em cần tập trung tả những bộ phận quan trọng nhất. Đó chính là những nét tiêu biểu để phân biệt đồ vật này với đồ vật khác. Đồ vật thường gắn liền với cuộc sống con người nên khi miêu tả phải nói tới công dụng, lợi ích của đồ vật cũng như tình cảm của con người đối với nó. Có như vậy, đồ vật mới hiện lên một cách sinh động và có hồn.

          Tả cây cối:

Đối tượng văn miêu tả cây cối là những cây trồng xung quanh nhà, trồng trên sân trường, trên đường đi, hay cả cánh rừng, gần gũi với học sinh hàng ngày…Đó có thể là một cây ăn quả, một loài hoa đẹp, cây bóng mát, cây lấy gỗ…những cây gần gũi và có ích đối với con người. Mỗi loài cây có một đặc điểm, hình dáng riêng, lợi ích nhất định. Vì vậy, khi miêu tả, hướng cho học sinh phải làm nổi bật những đặc điểm đó. Tả cây ăn quả cần tập trung miêu tả hình dáng của cây, mùi vị của quả, tả loài hoa, cần tả hương sắc của hoa, hình dáng của hoa…, tả cây bóng mát phải làm rỏ dáng cây, tán lá…

Cây cối sống trông thiên nhiên, gần gũi với con người. Khi miêu tả, cần gắn chúng với cảnh vật xung quanh, như mặt trời, bóng mây, gió, nước, chim, sông, suối, ao, hồ, con đường, sân trường, vườn và con người luôn hiện hữu. Kèm theo đó là lợi ích của cây cối và tình cảm gắn bó của người tả đối với cây cối…

          Tả loài vật:

Đối tượng của văn miêu tả loài vật là những con vật quen thuộc gần gũi với học sinh. Đó là con lợn, con bê, con gà, con cún con, con mèo, con khỉ, con gấu bông, con búp bê…Mỗi con vật đều có đặc điểm riêng về hình dáng, ngoại hình, đặc tính giống nòi riêng, thói quen riêng, tính cách của mỗi con vật luôn có sự khác biệt của mỗi loài vật. Khi miêu tả, hướng cho học sinh miêu tả cái chung và những nét riêng biệt, tiêu biểu của từng loài vật, màu sắc, vóc dáng, tính nết. Những con vật miêu tả là những con vật gần gũi thân thiết và có nhiều lợi ích, bài viết phải thể hiện được sự chăm sóc ân cần, chu đáo, thể hiện rỏ tình cảm yêu quý của học sinh đối với con vật mình tả.

Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan của mình. Bài văn miêu tả mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính riêng biệt của người viết. Ngôn ngữ trong miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ. Tả là mô phỏng, tô vẽ lại, là so sánh ví von, nhân hóa bằng hình ảnh…chứ không phải là kể lể.

Giáo viên phải uốn nắn để học sinh không có thái độ, giả tạo, sáo rỗng, đến vô cảm, vô hồn trong miêu tả…

  1. Giải pháp thứ hai: Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, thảo luận và dạy thực nghiệm từng chuyên đề cụ thể về phân môn tập làm văn mà đặc biệt quan tâm dạng bài văn miêu tả ở lớp 4 .

Chuyên môn, tổ chuyên môn lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ theo hướng dẫn nhiệm vụ năm học. Nắm bắt thực tiễn năng lực của giáo viên, chất lượng của học sinh từ đó lập kế hoạch và đưa ra những giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo dạy học sát với thực tiễn của đơn vị. Từ kế hoạch tổng quát của cả năm học, đến kế hoạch bồi dưỡng giáo viên theo từng giai đoạn, đến tháng, tuần. Tổ chức công khai các kế hoạch để có sự bàn bạc thống nhất chung trong tổ khối, bậc học thực hiện đảm bảo có hệ thống.

Chuyên môn phân công cụ thể đến tổ chuyên môn thực hiện các chuyên đề, từ đó tổ phân công, tổ chức thảo luận các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho có hiệu quả cao nhất. Các thành viên trong tổ thảo luận xây dựng hoàn thành ý tưởng của một chuyên đề, hay một bài dạy, sau đó lựa chọn một giáo viên có năng lực thực hiện chuyên đề đó sau đó đánh giá, khảo sát chất lượng theo định hướng trên. Tổ chức đánh giá nhận xét và tổ chức rút kịnh nghiệm qua thực tiễn của chuyên đề. Ví dụ: Đều là dạy văn miêu tả, nhưng các chuyên đề thể hiện một khía cạnh, một mảng riêng, nhằm làm phong phú hơn về phương pháp dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy học.

Từ những buổi sinh hoạt chuyên đề đó, đã tạo cơ hội cho giáo viên phát huy hết khả năng của bản thân, cũng như huy động được trí tuệ của cả một tập thể. Kết quả mang lại là giáo viên tự tin, năng động, sáng tạo hơn trong dạy phân môn tập làm văn nói chung và dạy tập làm văn kiểu bài miêu tả nói riêng. Học sinh qua hơn hai năm dạy thực nghiệm và được sự chỉ đạo sâu sát của chuyên môn nhà trường đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Học sinh giờ đây không phải sợ học môn tập làm văn nữa, mà đã có ý thức học môn tập làm văn hơn trước.

  1. Giải pháp thứ ba: Giúp học sinh có kĩ năng quan sát đối tượng cần miêu tả, cách lựa chọn hình ảnh, nội dung cần miêu tả:

Định hướng quan sát vừa giúp cho học sinh tích luỹ vốn sống vừa phát triển vốn từ, rèn luyện tư duy logic, tư duy hình tượng trong bài văn. Biện pháp hướng dẫn học sinh quan sát là một biện pháp không thể thiếu khi dạy văn, đặc biệt là văn miêu tả, tuy nhiên khi sử dụng biện pháp này giáo viên cần lưu ý:

Quan sát theo trình tự từ xa đến gần và ngược lại, từ trong ra ngoài, từ bao quát đến chi tiết và ngược lại. Ghi chép những điều đã quan sát được. Tổ chức quan sát từng đối tượng cụ thể. Có thể hướng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực tiếp đối tượng. Quan sát gián tiếp qua báo, đài.

Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả:

Căn cứ vào hình ảnh đã lựa chọn khi quan sát, nội dung đã ghi chép, chọn lọc những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, vẽ đẹp và sự khác biệt của đối tượng để miêu tả chi tiết. Có thể lòng ghép các hình ảnh, hoạt động gắn bó mật thiết với từng đối tượng cần tả, để khái quát, bổ trợ tạo nên hình ảnh tổng thể của sự vật mình tả.

Cái cốt lõi mà giáo viên phải chú ý khi dạy cho học sinh là chọn đối tượng, vị trí, thời gian, đặc điểm quan sát sao cho tất cả học sinh đều được quan sát và tạo được hứng thú thực hiện quan sát. Hướng dẫn học sinh trình tự quan sát hợp lí, biết chú ý vào những đặc điểm nổi bật. Tư vấn cho các em cách ghi chép các kết quả quan sát được. Tôn trọng những nhận xét riêng, cảm nghĩ riêng của học sinh về đối tượng mà các em quan sát được.

  1. Giải pháp thứ tư: Hướng dẫn học sinh có kĩ năng sắp xếp ý, diễn đạt ý, lập dàn ý chi tiết cho một bài văn:

Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý trước khi làm thành một bài văn hoàn chỉnh. Có lập được dàn bài thì mới có thể tìm ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng. Bởi lẽ, ở những lớp dưới, các em không phải làm những việc này, mà các em chỉ viết câu văn, đoạn văn bằng cách trả lời những câu hỏi cho sẵn hoặc dựa vào những gợi ý của đề bài, một cách đơn giản, ngắn gọn. Khi lên học chương trình lớp 4 thì việc lập dàn ý cho một đề bài cụ thể là yêu cầu bắt buộc, các em phải biết thực hiện, phải lập được dàn ý dựa vào đó mà hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn.

Nhằm giúp học sinh đỡ khó khăn hơn trong việc tự lập dàn ý cho bài văn, khi  dạy học các bài  cấu tạo của bài văn miêu tả, tả đồ vật, cây cối, loài vật, giáo viên hướng dẫn các em dựa vào phần Ghi nhớ trong SGK, cùng xây dựng một dàn bài chung cho loại bài văn miêu tả.

Ví dụ: Đề bài : Em hãy tả một cây có bóng mát. Tả cây bàng.

Mở bài:

Con đường đất từ trường về nhà em hai bên trồng nhiều hoa.

Một cây bàng cao to, tán rộng đứng che một quán nước nhỏ.

Thân bài:

Tả bao quát

Tả từng bộ phận

Kết bài:

Bàng che bóng mát, lá gói xôi, quả ăn được…

Cây bàng gắn bó với những năm tháng tuổi thơ, với tình quê hương.

Ví dụ: Lập dàn bài tả một con vật trong nhà.

Mở bài:

Bố em thường nôi chó ở trông vườn.

Con chó sống với gia đình em lâu nhất tên là Mực.

Thân bài:

Tả hình dáng bên ngoài.

Tả từng bộ phận:

Tả hoạt động

Kết bài:

Mực hiền lành, khôn ngoan, được việc. Cả nhà đều quý và coi Mực như một thành viên của gia đình.

          Giáo viên cần lưu ý cho học sinh nắm mục đích của từng đoạn văn. Đoạn mở bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất xứ nhân vật. Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng lời về hình dáng, đường nét, cử chỉ, hoạt động, tính nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu thì ta mới nhận ra nhân vật đó mang những cá tính riêng. Bạn học sinh trong bài là một học sinh vùng nông thôn với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn lộn với bất cứ bạn học sinh nào khác. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nêu được cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu như: Em rất yêu quý …

  1.   Giải pháp thứ năm: Đổi mới cách đánh giá học sinh theo Thông tư 22-BGD&ĐT trong dạy học nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng:

Muốn đổi mới cách đánh giá học sinh theo Thông tư 22 – BGD&ĐT có hiệu quả, thì trước hết giáo viên phải nắm chắc nguyên tắc đánh giá đó là:

Đi đôi với công việc chấm bài là phải hướng dẫn học sinh sửa bài. Phải giúp các em phát hiện ra những điểm hay cần học tập và những điểm chưa hay, chưa đạt để sửa chữa trong bài văn của mình. Trên cơ sở đó, các em phải sửa lại bài làm của mình cho hay hơn, đúng hơn.

Giáo viên cần tránh việc chê bai các em nhưng cũng không được lạm dụng lời khen, tạo sự thờ ơ của học sinh đối với lời khen do được khen quá nhiều, khen không đúng lúc. Kiểu như mỗi lần các em nói xong, nhiều lúc chỉ là nhận xét bạn đã viết hoa đầu câu chưa, giáo viên đều nhận xét “Em giỏi lắm!”.Việc học tập làm văn miêu tả đã khó với học sinh tiểu học nói chung, đặc biệt khó với học sinh vùng cồn bãi, do đó việc đổi mới đánh giá học sinh theo Thông tư 22 – BGD&ĐT là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học và ưu việt hơn đối với học sinh vùng còn bãi. Các em vốn từ, vốn sống còn hạn chế do đó các em phần lớn là nhút nhát, thiếu tự tin. Để  kích thích các em học được và học tốt văn miêu tả thì GV cần dành cho học sinh những lời khen, kịp thời, mang tính khích lệ động viên. Các em sẽ phấn khởi, tự tin hơn, từ đó phát huy được khả năng tiềm tàng của bản thân. Từ đó các em sẽ có một tâm thế thoải mái, tự tin, hào hứng với môn học, học tích cực và hiệu quả hơn.

  1. Giải pháp thứ sáu: Làm giàu vốn từ cho học sinh trong quá trình dạy học:

Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ gợi tả để có thể dùng trong miêu tả. Giáo viên yêu cầu học sinh theo mức dộ khó dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt đúng câu, viết đúng đoạn, cao hơn  phải sử dụng được các biện pháp như; so sánh, nhân hóa, dùng từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh, hay những từ ngữ biểu lộ tình cảm.

Ví dụ: Miêu tả một chú gà trống. Học sinh đặt câu:“Chú gà nhà em có bộ lông đỏ tía”.

Giáo viên có thể cho các em nhận xét: Câu văn đã đủ chủ ngữ, vị ngữ, đã rõ nghĩa. Sau đó đặt câu hỏi: Em nào đặt câu khác hay hơn để miêu tả bộ lông của chú gà trống? Học sinh có thể đặt câu:

“Chú trống choai thật oai vệ, chú khoác trên mình bộ lông màu đỏ tía, chen lẫn màu vàng sẫm như một chiếc áo sặc sỡ của những chàng công tử”.

Học sinh khác có thể so sánh ngắn gọn hơn:

“Chú khoác trên mình một bộ lễ phục màu tía rực rỡ như một võ tướng”.

Ví dụ: Khi miêu tả con mèo:

Một học sinh tả cái đuôi chú mèo.

“ Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc”. Giáo viên hỏi: Em nào có thể nhận xét cách đặt câu của bạn? Học sinh nhận xét , bạn đã sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một cái măng ngọc.

Giáo viên có thể cho học sinh học tập lẫn nhau khi thảo luận nhóm, cùng chia sẽ, học hỏi lẫn nhau về cách miêu tả. Ví dụ: Miêu tả cái đuôi của chú mèo sao cho sinh động hơn. “ Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống lên, đăm chiêu nhìn và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên”. Hay: “ Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân thon dài mềm mại, uyển chuyển trong thật đáng yêu”.

Như vậy cùng là miêu tả về bộ lông của chú gà trống, cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, sử dụng những từ gợi tả, gợi cảm thì hiệu quả cao hơn. Ta nhận thấy miêu tả như vậy sinh động vừa tinh tế , rất tình cảm dễ cuốn hút người đọc, người nghe vào hình ảnh miêu tả.

Tích luỹ  vốn từ, kiến thức về văn học là điều kiện tối thiểu để học tốt môn Tiếng Việt, nhất là phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả. Giáo viên nên cho học sinh sử dụng sổ tay chính tả để ghi chép những tiếng khó, ghi những trường hợp mắc lỗi chính tả đã được sửa chữa. Trong môn Tập làm văn, đây cũng là một biện pháp tích cực để giúp học sinh trau dồi vốn từ, kiến thức văn học. Sổ tay văn học dùng cho các em ghi chép các ý hay, các câu, đoạn văn hay. Việc ghi chép này không nhất thiết để cho học sinh khi làm văn sẽ mở ra sử dụng nhưng trước hết, qua mỗi lần ghi chép, các em sẽ được một lần đọc, ghi nhớ, bắt chước, lâu dần thành thói quen. Khi làm bài, những từ ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện, giúp học sinh có thể vận dụng trong bài làm.

  1. Giải pháp thứ bảy : Vận dụng có hiệu quả tiết trả bài ở phân môn tập làm văn, kiểu bài miêu tả.

Để tiết trả bài tập làm văn có hiệu quả, mang lại sự thành công thì không thể bỏ qua bất cứ một khâu nào, trong quy trình dạy tập làm văn miêu tả. Khâu kiểm tra  đánh giá học sinh là một khâu quan trọng, có kiểm tra đánh giá đúng thực chất năng lực của học sinh, người giáo viên mới biết được những ưu, khuyết điểm của từng học sinh, cũng như trong chỉ  đạo điều hành dạy học của chuyên môn. Đây chính là một cứ liệu quan trọng để điều chỉnh, các giải pháp, biện pháp, cách thức tổ chức dạy học sát đúng với đối tượng học sinh hơn.

Do đó tiết trả bài ở phân môn tập làm văn kiểu bài miêu tả hết sức quan trọng, đây là khâu cuối cùng, giúp học sinh, giáo viên nắm được chất lượng thực chất, để đánh giá, nhận xét. Từ đó giúp học sinh thấy được những ưu điểm của mình để phát huy, thấy được những mặt hạn chế của mình qua bài làm để khắc phục sớm những tồn tại, khiếm khuyết đó. Trong tiết trả bài giúp học sinh đọc lại được bài làm của mình, biết những lỗi mà giáo viên chỉ ra, biết được những ưu điểm của bài viết của mình. Từ đó học sinh biết sữa lỗi dùng từ đặt câu, ngữ pháp, cách diễn đạt ý, lỗi chính tả, bố cục của bài mình và bài các bạn. Thông qua tiết trả bài giáo viên hướng dẫn học sinh học hỏi lẫn nhau, những câu văn hay, những biện pháp, nhân hóa, so sánh, liên tưởng hợp lý, những đoạn văn hay, cấu trúc bài chặt chẽ…Vì vậy tiết trả bài giáo viên cần phải chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi lên lớp, xem đây là một biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh Trường Tiểu học Quảng Minh B.

Giáo viên hướng dẫn cho học sinh chữa bài, đây là một khâu khó, giúp học sinh phát huy được ưu điểm và khắc phục những hạn chế của mình thông qua chữa lỗi ở bài làm. Cách chữa bài cho học sinh phải linh hoạt chứ không cứng nhắc.

          Sau khi thực hiện các giải pháp kết quả bài làm tập làm văn của học sinh cuối năm học 2019-2020:

 

Lớp TSHS       HTT         HT          CHT  Ghi chú
  4B    17 SL % SL % SL %
4 23,6 13 76,4 0 0

III. Kiến nghị, đề xuất:

  1. 1. Đối với giáo viên:

Cần tăng cường hơn nữa trong công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, thông qua dự giờ đồng nghiệp, thảo luận , chia sẽ theo từng chuyên đề, theo hướng nghiên cứu bài học, qua nghiên cứu tài liệu, sách, báo, các kênh thông tin nghe, nhìn. Tham gia có hiệu quả các buổi tập huấn, chủ động trong trao đổi chia sẽ, xây dựng các chuyên đề về đổi mới dạy học, giáo viên tự trải nghiệm.

  1. Đối với các cấp quản lý:

Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các hội thảo, thực hiện các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học. Chỉ đạo sát việc dạy học phân môn tập làm văn, trong tình hình mới hiện nay. Từ đó định hướng cho cán bộ quản lý, giáo viên những kiến thức, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện, phương pháp chỉ đạo trong quá trình dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng.

 

                                                                                                                                                                       KÍ DUYỆT CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

                                                                                                                                                                                                  HIỆU TRƯỞNG

 

 

 

 

Hoàng Thị Thái Nguyên